1. Thuốc kháng sinh

Trong các tổn thương tại mắt, viêm có kèm theo nhiễm khuẩn là rất phổ biến, phần lớn là nhiễm khuẩn trực tiếp. Vì vậy, các kháng sinh có tác dụng kháng khuẩn được dùng nhiều trong nhãn khoa. Các kháng sinh thường được dùng tại chỗ,

2. Thuốc kháng virus

Có nhiều loại virut gây bệnh trên mắt, trong đó phổ biến là Herpes simplex (gây viêm loét giác mạc tái phát), Adenovirus (gây viêm kết mạc thành dịch), Herpes zoster (còn gọi là bệnh zona)... Việc điều trị tổn thương do virut khá khó khăn do bệnh thường xuyên tái phát và việc dùng kháng sinh chỉ có tác dụng phòng bội nhiễm vi khuẩn mà không chống được virus. Các thuốc có tác dụng diệt virus hay sử dụng: acyclovir, vidarabin, idoxuridin…Tuy nhiên, các thuốc này có thể gây ra một số tác dụng phụ khi sử dụng kéo dài: viêm kết mạc có hột, phù kết mạc nhãn cầu, co chít điểm lệ hoặc lệ quản, viêm giác mạc chấm nông biểu mô, giảm chế tiết nước mắt

3. Thuốc chống nấm

Nhiễm nấm cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây bệnh phổ biến trong các bệnh về mắt. Nấm thường phát triển và gây tổn thương trên giác mạc. Các thuốc chống nấm có thể chia ra làm 3 nhóm:

- Nhóm Imidazoles

Nhóm này gồm 3 thuốc: Clotrimazole 1%, Miconazole 10% -10ml, Econazole 1%.Các thuốc này có tác dụng tốt với nhiều loại nấm như Aspergillus, Fusarium, Curvularia, Penicilium, Cephalosporium, nấm nem Candian. Riêng Miconazole tác dụng kém với Fusarium.

- Nhóm Polyenes

Nhóm này gồm Amphotericin B, Natamycin 5% -thuốc mỡ hoặc nước. Các thuốc này có tác dụng tốt với nhiều loại nấm, đặc biệt tốt đối với Fusarium, nhưng thấm vào giác mạc kém vì không hòa tan, kích thích và chậm quá trình liền sẹo giác mạc. Riêng Amphotericin B khá độc.

- Flucytosine 1- 1,5% chỉ tác dụng đối với nấm men Candida.

Có nhiều loại nấm gây bệnh ở mắt và có nhiều loại chế phẩm chống nấm, do vậy khi điều trị phải tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh để chọn thuốc cho phù hợp.

4. Thuốc chống viêm

Các thuốc chống viêm được dùng khá nhiều trong điều trị bệnh về nhãn khoa. Có 2 nhóm thuốc  chống viêm chính:

- Các Corticosteroids: có tác dụng chống viêm mạnh nhất và còn có tác dụng chống xuất tiết và chống dị ứng. Một số các corticosteroids hay dùng: hydrocortison, dexamethason, betamethason, prednisolon.... Tuy nhiên, việc sử dụng các corticosteroids cần hêt sức cẩn thẩn vì tiềm ẩn rất nhiều các tác dụng phụ nghiêm trọng: bệnh nhân sử dụng thuốc steroid tại mắt kéo dài có nguy cơ mắc đục bao thủy tỉnh tinh thể thứ phát, glaucom thứ phát do cortison., các tai biến tại mắt thường gặp là làm giảm khả năng đề kháng của mắt với nhiễm khuẩn nên dễ nhiễm nấm và virut, chậm liền vết thương.

- Các thuốc chống viêm không steroid: các thuốc thường được sử dụng tai chỗ, có tác dụng yếu hơn so với các chống viêm corticosteroids nhưng không gây các tác dụng phụ nặng nề khi sử dụng kéo dài. Một số các thuốc hay dùng: Indomethacin, Cromoglycate, Nedocromil, Iodoxamide…

5. Thuốc giãn đồng tử

Các thuốc giãn đổng tử tác dụng theo 2 cơ chế chính: chẹn hệ thần kinh giao cảm làm giãn cơ co đồng tử hoặc các thuốc làm liệt điều tiết.

Các thuốc giãn đồng tử được dùng trong các trường hợp:

- Để làm giãn đồng tử: cho phép khám đáy mắt, khám chu vi thể thủy tinh , dịch kính dễ dàng hơn và trong phẫu thuật nội nhãn. Có thể sử dụng bất cứ thuốc nào trong nhóm thuốc dãn đồng tử từ tác dụng ngắn hoặc Phenylephrine hoặc cả 2 loại trên 

- Để làm dãn cơ trơn của thể mi và mống mắt, và do đó sử dụng để điều trị các bệnh viêm mống mắt, thể mi-viêm  màng bồ đào, thường dùng Atropin trong trương hợp này.

- Để làm liệt điều tiết khi cần đo khúc xạ khách quan (soi bóng đồng tử).

Không được dùng thuốc giãn đồng tử khi:

- Glaucom góc đóng nguyên phát hoặc nghi ngờ có Glaucom góc đóng (góc tiền phòng hẹp

- Dị ứng với thuốc giãn đồng tử.

6. Thuốc co đồng tử

Thuốc co đồng tử gây kích thích hệ thần kinh phó giao cảm và làm cơ co đồng tử co lạ. Thuốc co đồng tử chủ yếu dùng để điều trị bệnh Glaucom. Khi đồng tử co sẽ làm mở rộng thêm góc tiền phòng , khiến cho bệnh Glaucom góc đóng nguyên phát nhẹ đi. Thuốc co đồng tử cũng làm tăng lưu thông thủy dịch qua vùng bè cũng mạc và do đó làm hạ nhãn áp trong bệnh Glaucom góc mở nguyên phát .

Các thuốc co đồng tử kéo dài ngày vì gây co thắt điều tiết, dẫn đến nhức mắt, nhìn xa mờ và có thể gây đục thể thủy tinh vì các thuốc kháng Choline esterase ức chế hô hấp của tế bào thể thủy tinh. Không được dùng thuốc co đồng tử khi: Viêm loét giác mạc, viêm mống mắt thể mi, viêm màng bồ đào

Như vậy, khi dùng thuốc để trị các bệnh tại mắt cần phải xem xét kỹ thành phần và tác dụng của các thành phần đó, nên tuân theo chỉ định của bác sĩ. Người bệnh không nên tự ý sử dụng để tránh gặp phải các tác dụng phụ không mong muốn.